Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Navigate Up
Sign In

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

 
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấtChủ Nhật, Ngày 10/05/2015, 08:30

Kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới trên địa bàn huyện Bình Chánh, giai đoạn 2010-2015

(Tính đến tháng 5/2015)

 

1. Đánh giá chung
a) Xã điểm của Thành phố
Xã Tân Nhựt: khi bắt đầu xây dựng đề án tháng 11/2009, xã đạt 5/19 tiêu chí. Đến cuối năm 2012 đạt 19/19 tiêu chí.
b) Về 13 xã nhân rộng
Khi bắt đầu triển khai đề án 11/2011 bình quân các xã đã đạt: 5 tiêu chí.
- Đến 12/2012: bình quân đạt: 7 tiêu chí.
- Đến 12/2013: bình quân đạt: 14 tiêu chí.
- Đến 12/2014: bình quân đạt: 15 tiêu chí.
- Đến 3/2015: bình quân đạt: 18 tiêu chí (12 xã đạt 19 tiêu chí và 02 xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B đạt 17 tiêu chí).
2. Kết quả cụ thể
a) Công tác quy hoạch
- Công tác chỉ đạo điều hành:
Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới Huyện đã xác định công tác quy hoạch phải thực hiện trước, để làm cơ sở để đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, bố trí dân cư và phát triển sản xuất. Chính vì vậy, ngay khi triển khai thực hiện đề án Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới Huyện luôn quan tâm, kiểm tra, chỉ đạo thường xuyên để đảm bảo công tác lập, phê duyệt đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới của các xã; giao các cơ quan chuyên môn hỗ trợ cho các xã trong công tác quy hoạch.
Trong công tác chỉ đạo thực hiện quy hoạch, Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới Huyện luôn quán triệt việc phát triển giao thông cần đảm bảo tính kết nối các tuyến đường chính của Thành phố, Huyện như Quốc lộ 1, Quốc lộ 50, đường Nguyễn Văn Linh, đường Trần Văn Giàu, đường Trần Đại Nghĩa, đường dẫn cao tốc Sài Gòn - Trung Lương... để tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Chú trọng quy hoạch điểm sinh hoạt văn hóa gắn với khu dân cư nhằm phát huy hiệu quả, tránh lãng phí.
        Ban quản lý nông thôn mới các xã, phối hợp các đơn vị tư vấn tổ chức các cuộc hội thảo để nhân dân, doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn đóng góp ý kiến hoàn thiện công tác quy hoạch.
- Kết quả chung:
Đã hoàn thành công tác lập, phê duyệt đồ án quy hoạch của 12 xã vào cuối năm 2013 và 02 xã Vĩnh Lộc A,Vĩnh Lộc B vào cuối năm 2014. Đã phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết khu trung tâm và điểm dân cư của 5/6 xã (xã Qui Đức, Bình Lợi, Hưng Long, Tân Quý Tây, Phạm Văn Hai), còn xã Đa Phước đơn vị tư vấn đang điều chỉnh quy mô dân số.
Đã triển khai công bố đồ án quy hoạch của các xã tại trụ sở UBND xã, trụ sở ban nhân dân các ấp, thông báo trên đài truyền thanh huyện và xã.
Hiện đang thẩm tra quy chế quản lý đồ án quy hoạch của 14 xã và đề xuất Thành phố hướng dẫn công tác cắm mốc trên thực địa.
b) Công tác xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (từ tiêu chí 2 - 9)
- Công tác chỉ đạo điều hành:
Quá trình triển khai đầu tư các dự án cơ sở hạ tầng gặp khó khăn đặc biệt là công tác giải phóng mặt bằng do các công trình trong nông thôn mới phần lớn là nhà nước đầu tư vốn và nhân dân hiến đất 100%, do đó Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới Huyện thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo Ban quản lý các xã tăng cường công tác tuyên truyền vận động cho nhân dân, doanh nghiệp hiểu rõ lợi ích các công trình mang lại, để cùng nhau hỗ trợ chia sẽ vì lợi ích chung. Vận động cán bộ, đảng viên, công chức tiên phong, gương mẫu trong việc hiến đất làm đường giao thông và cùng vận động người thân của mình cùng tham gia. Giao các cơ quan chuyên môn hỗ trợ, hướng dẫn cho xã đẩy nhanh tiến độ lập, trình phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật, giải ngân, quyết toán cũng như công tác thi công các công trình.
Ban quản lý nông thôn mới xã họp lấy ý kiến góp ý của nhân dân về quy mô, thiết kế các công trình, dự án trước khi triển khai thực hiện, công khai vốn đầu tư, quá trình mời thầu, đấu thầu, góp phần tạo ra sự đồng thuận trong nhân dân. Thành lập ban giám sát cộng đồng của xã, ấp để kiểm tra, giám sát chất lượng thi công các công trình, dự án trên địa bàn.
Phối hợp với các Sở như Sở Tài chính, Sở Giao thông - Vận tải, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn... hướng dẫn, hỗ trợ về quản lý dự án đầu tư để kịp thời nhắc nhở, điều chỉnh các dự án đảm bảo tiến độ thi công và chất lượng công trình.
- Kết quả chung: các tiêu chí đều đạt.
Giai đoạn 2010-2015: với tổng công trình xây dựng nông thôn mới 751 công trình. Trong đó, có 431 công trình giao thông, 125 công trình thủy lợi, 65 công trình trường học, 119 công trình cơ sở vật chất văn hóa, 11 cơ sở y tế.
Đến nay, Huyện đã triển khai thực hiện 653 công trình đạt 86.9% (378 công trình giao thông, 120 công trình thủy lợi, 51 công trình trường học, 93 công trình cơ sở vật chất văn hóa, 11 công trình y tế), trong đó đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 306 công trình (150 công trình giao thông, 83 công trình thủy lợi, 22 công trình trường học, 41 công trình cơ sở vật chất văn hóa, 10 công trình y tế), đang thi công 109 công trình, chuẩn bị khởi công 54 công trình, trình phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật 33 công trình, đang lập báo cáo kinh tế kỹ thuật 151 công trình.
- Kết quả cụ thể: (tính đến 3/2015)
Tiêu chí số 02 về giao thông:
Trên địa bàn Huyện có 990 đường, với chiều dài 702,108km; 126 cầu giao thông, với chiều dài 5,925km; 04 hầm chui, với chiều dài 182,8m. Trong đó:
+ Cấp Thành phố quản lý 73 đường, với chiều dài 140,669km; 45 cầu giao thông, với chiều dài 4,054km; 04 hầm chui, với chiều dài 182,8m.
+ Cấp Huyện quản lý 237 đường, với chiều dài 291,662km; 72 cầu giao thông, với chiều dài 1,8234km.
+ Cấp Xã quản lý 680 đường, với chiều dài 283,289km; 17 cầu giao thông, với chiều dài 421m.
Theo đề án xây dựng nông thôn mới của các xã, trên địa bàn Huyện tiếp tục được đầu tư nâng cấp 431 tuyến (471,28km), trong đó đường trục xã, liên xã 42 tuyến (134,753km); trục ấp, liên ấp 101 tuyến (152,94km); đường ngõ xóm 228 tuyến (89,703km); đường nội đồng 60 tuyến (93,89km).
Hiện nay, đã có 150/431 công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, với tổng chiều dài là 127,147 km; đang thi công 69/431 công trình, tổng chiều dài là 103,230 km; đã phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật chuẩn bị đầu tư 36/431 công trình; trình phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật chuẩn bị đầu tư 21/431 công trình; đang khảo sát lập báo cáo kinh tế kỹ thuật 102 công trình.
Tiêu chí số 03 về Thủy lợi
Huyện Bình Chánh có 587km kênh mương thủy lợi phục vụ tưới tiêu, chống ngập úng, sản xuất nông nghiệp cho khoảng 17.300ha. Trong đó, có 425km kênh thủy lợi thuộc hệ thống thủy lợi Hóc Môn - Bắc Bình Chánh, phục vụ tưới tiêu, chống ngập úng, sản xuất nông nghiệp cho khoảng 9.700ha; hệ thống thủy lợi do Huyện và xã quản lý 162km kênh, rạch thủy lợi phục vụ tưới tiêu, chống ngập úng, sản xuất nông nghiệp cho khoảng 7.600ha (báo cáo 168/BC-UBND ngày 13 tháng 4 năm 2015 của Ủy ban nhân dân Huyện về tình trạng công trình thủy lợi trên địa bàn Huyện).
Thực hiện đề án nông thôn mới đã duy tu, nạo vét 56 kênh thủy lợi, với chiều dài 73,376km; nâng cấp sửa chữa 69 cống và đê bao. Trong đó, có 83/125 công trình đã hoàn thành và đưa vào phục vụ sản xuất nông nghiệp (nạo vét 42 kênh, sửa chữa 41 điểm cống); đang thi công nạo vét 12 công trình kênh, nâng cấp sửa chữa 13 công trình cống; đang trình duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật 01 công trình; đang khảo sát lập báo cáo kinh tế kỹ thuật 11 công trình.
Tiêu chí số 04 về Điện
Hệ thống điện trên địa bàn Huyện:
- Về hệ thống đường dây: có 673,069km trung thế (trong đó tài sản điện lực: 574,307km, tài sản khách hàng: 98,77km); có 1.315,94km dây hạ thế (trong đó tài sản điện lực: 1.294,78km, tài sản khách hàng: 21,17km);
- Về hệ thống trạm biến thế: Quản lý: 3.664 máy biến thế/2.788 trạm với tổng công suất là 925.665 kVA (trong đó trạm công cộng: 1.548 máy biến thế/1.356 trạm/304.245 kVA, trạm chuyên dùng: 332 máy biến thế/186 trạm/ 62.615 kVA, trạm khách hàng: 1.784 máy biến thế/1.246 trạm/ 558.805 kVA).
- Sản lượng điện tiêu thụ năm 2010 đạt 996,62 triệu kWh và năm 2014 đạt 1.515,3 triệu kWh.
Đảm bảo điện lưới phủ kín trên địa bàn Huyện, phục tốt nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt và sản xuất của người dân đạt 100%. Tuyên truyền vận động người dân và doanh nghiệp sử dụng điện an toàn, tiết kiệm.
Tiêu chí số 05 về Trường học
Trên địa bàn Huyện có 22 trường mầm non, 27 trường tiểu học, 17 trường THCS, 5 trường THPT, với 1547 phòng học, 66.804 học sinh và 3.572 cán bộ, giáo viên, công nhân viên. Trong đó có 07 trường đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất, 09 trường đạt chuẩn quốc gia theo 5 tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và đào tạo.
Theo đề án xây dựng nông thôn mới có 65 trường được đầu tư sửa chữa nâng cấp, xây mới. Đến nay, có 22/65 trường học đã hoàn thành và đưa vào sử dụng; đang thi công xây dựng 09/65 công trình; chuẩn bị khởi công xây dựng 05/24 công trình trường mầm non, 03/24 công trình trường tiểu học, 02/14 công trình trường trung học cơ sở; đang trình duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật 09/65 công trình; đang khảo sát lập báo cáo kinh tế kỹ thuật 06/65 công trình.
Tiêu chí số 06 về Cơ sở vật chất văn hóa
Theo đề án xây dựng nông thôn mới có 119 công trình được đầu tư nâng cấp và xây mới, trong đó có 41/119 công trình đã hoàn thành đưa vào sử dụng (35/110 trụ sở văn phòng ban nhân dân ấp, 02/09 trung tâm văn hóa thể dục thể thao xã, 04 trụ sở Ủy ban nhân dân xã); đang thi công 06/119 công trình (02 trụ sở văn phòng ban nhân dân ấp, 01/9 trung tâm văn hóa xã, 03 trụ sở Ủy ban nhân dân), đã phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật chuẩn bị khởi công 12/119 công trình (09/110 trụ sở văn phòng, 02/9 trung tâm văn hóa xã, 01 trụ sở ủy ban), đang trình phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật 02 công trình (01/110 trụ sở văn phòng ban nhân dân ấp, 01/9 trung tâm văn hóa xã), đang khảo sát lập báo cáo kinh tế kỹ thuật 58/119 công trình.
Tiêu chí số 07 về Chợ
Năm 2009, trên địa bàn Huyện có 13 chợ; đến nay, tổng số chợ là 15 chợ truyền thống (phát triển thêm 03 chợ, chuyển công năng 01 chợ), trong đó 14 xã xây dựng nông thôn mới đã huy động các nguồn vốn nông thôn mới, xã hội hóa... để thực hiện nâng cấp, sửa chữa, xây mới, sắp xếp ổn định hoạt động 13 chợ. Ngoài ra, Huyện cũng phát triển các loại hình khai thác thương mại với 01 trung tâm thương mại, 06 siêu thị, 15 chợ cấp 2 và cấp 3 theo quy hoạch và 4 cửa hàng tiện ích cùng với hàng trăm các cửa hàng, tạp hóa, bình ổn phủ rộng khắp các xã, đảm bảo nhu cầu mua sắm của người dân.
Tiêu chí số 08 về Bưu điện
Huyện có 01 Bưu điện trung tâm Huyện, 16 bưu điện văn hóa xã, 208 điểm phục vụ internet đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu về thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông của người dân.
Tiêu chí số 09 về Nhà ở dân cư
Trên địa bàn Huyện không còn nhà tạm, nhà dột nát. Huyện, xã vận động người dân sửa chữa, chỉnh trang nhà cửa đảm bảo tiêu chí 3 cứng của Bộ Xây dựng, đạt tỷ lệ 97,9%. Từ năm 2012-2014, Huyện đã trao tặng 626 nhà tình thương, 23 nhà tình nghĩa, sửa chữa 203 căn từ nguồn kinh phí do Huyện vận động. Trong đó được sự quan tâm của Lãnh đạo Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ đạo các đơn vị Quận ủy, Đảng ủy các Tổng công ty của Thành phố(Thông báo 746-TB/TU ngày 27 tháng 3 năm 2014 của Ban Thường vụ Thành ủy) đã giúp cho Huyện xây dựng 376 căn nhà (217 nhà tình thương, 04 nhà tình nghĩa và 155 căn sửa chữa).
c) Công tác phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, giảm nghèo: (từ tiêu chí 10 - 13)
- Công tác chỉ đạo điều hành:
Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới Huyện chỉ đạo và giao các cơ quan chuyên môn hỗ trợ, hướng dẫn xã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo hướng tăng hỗ trợ phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giảm sản xuất nông nghiệp truyền thống kém hiệu quả, khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị mang lại hiệu quả kinh tế.
Phối hợp với ngành ngân hàng thực hiện hỗ trợ lãi suất theo Quyết định 105, 36, 13 của Thành phố về hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân (trong năm 2014 đã phê duyệt phương án vay vốn cho 314 hồ sơ với tổng vốn đầu tư là 219,36 tỷ đồng; tính đến ngày 04 tháng 3 năm 2015 số hộ còn dư nợ là 259 hộ, với tổng dư nợ là 77 tỷ đồng).
Phối hợp Trung tâm hỗ trợ nông dân Thành phố, trường Trung cấp nghề Trần Đại Nghĩa, Trung tâm khuyến nông... hỗ trợ tập huấn, đào tạo nhiều ngành nghề ngắn hạn theo nhu cầu của người dân và đồng thời giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn, giúp cho địa phương giải quyết công ăn việc làm cho người dân, góp phần giảm nghèo bền vững.
- Kết quả chung: các tiêu chí đều đạt
Cơ cấu kinh tế của huyện là công nghiệp, xây dựng (80,8%) – thương mại dịch vụ (16,5%) – nông nghiệp (2,7%).
Tỷ lệ hộ nghèo có thu nhập dưới 16 triệu đồng/hộ/năm còn 2,05% (2860 hộ); thu nhập bình quân đầu người đạt 40,452 triệu đồng/người/năm.
Về công nghiệp: trên địa bàn Huyện có 03 khu công nghiệp và 01 cụm công nghiệp, với hơn 5.033 doanh nghiệp, giải quyết việc làm cho 67.906 lao động địa phương và các tỉnh.
Về nông nghiệp: giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2014 đạt 866,77 tỷ đồng. Đẩy mạnh việc chuyển đổi diện tích trồng lúa năng suất thấp, kém hiệu quả sang trồng hoa lan, cây kiểng, trồng cỏ để chăn nuôi bò, dê và phát triển nuôi thủy sản (tôm, cua, cá thịt, cá kiểng…) với diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2013 là 563ha, sản lượng 2.541 tấn.
- Kết quả cụ thể:
Tiêu chí số 10 về Thu nhập
Năm 2012, thu nhập của người dân trên địa bàn 14 xã xây dựng nông thôn mới đạt 32,071 triệu đồng. Cuối năm 2014 và đầu năm 2015, phối hợp Cục Thống kê Thành phố, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiến hành điều tra số liệu thu nhập trung bình 14 xã của Huyện đạt 40.452.000 đồng người/năm.
Tiêu chí số 11 về Hộ nghèo
Khi bắt đầu triển khai xây dựng đề án nông thôn mới năm 2009 tỷ lệ hộ nghèo của Huyện là 11,93%; năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo 5,0%; năm 2013, tỷ lệ hộ nghèo 0,51% theo chuẩn 12 triệu đồng/người năm. Năm 2014 huyện có tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn 16 triệu đồng/người/năm là 2,28% (3182 hộ). Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo còn 2,05% (2860 hộ).
Từ năm 2010 đến tháng 3 năm 2015 Huyện đã giải quyết cho 9354 hộ vay xóa đói giảm nghèo với tổng số tiền 59,978 tỷ đồng.
Tiêu chí số 12 Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên
Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên là 215.729 người, đạt 92,4%. Từ năm 2010 đến năm 2013 đã giải quyết việc làm cho 28.914 lao động. Trường trung cấp nghề Trần Đại Nghĩa đã tổ chức đào tạo được 8.524 học viên.
Tiêu chí số 13 về Hình thức sản xuất
Trên địa bàn Huyện có 14 hợp tác xã, 03 quỹ tín dụng và 49 tổ hợp tác hoạt động trên các lĩnh vực thương mại dịch vụ, vận tải, nông nghiệp... Giúp giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của địa phương. Các điển hình như: Hợp tác xã Nông nghiệp sản xuất thương mại dịch vụ Phước An và Hợp tác xã Nông nghiệp sản xuất thương mại dịch vụ Phước Bình, quỹ tín dụng nhân dân Bình Chánh.
d) Công tác phát triển giáo dục, văn hóa, y tế và môi trường: (từ tiêu chí 14 - 17)
- Công tác chỉ đạo điều hành:
Huyện ủy, Ủy ban nhân dân Huyện rất quan tâm, tập trung chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường, khi xét duyệt các dự án đầu tư kinh doanh, thành lập các đoàn kiểm tra về công tác bảo vệ môi trường (xử lý chất thải, nước thải xử lý thu gom đúng qui định), cũng như triển khai xây dựng quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung.
Huyện ủy đã ban hành Nghị quyết 13-NQ/HU ngày 10 tháng 8 năm 2008 về bảo vệ môi trường thời kì công nghiệp hóa và phát triển đô thị;
Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Kế hoạch 170/KH-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2013 về bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2013-2015; Kế hoạch 96/KH-UBND ngày 21 tháng 5 năm 2014 về thực hiện các biện pháp khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; Kế hoạch 28/KH-UBND ngày 13 tháng 02 năm 2014 về tổ chức họp giao ban công tác bảo vệ môi trường năm 2014, phân công 01 đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện phụ trách lĩnh vục môi trường.
Đôn đốc đẩy nhanh tiến độ đầu tư, thi công và đưa vào sử dụng các công trình trạm y tế xã đạt chuẩn Bộ y tế. Tuyên truyền vận động nhân dân tham gia mua bảo hiểm y tế tự nguyện.
- Kết quả thực hiện:
Tiêu chí số 14 về Giáo dục
Tỷ lệ phổ cập giáo dục Trung học cơ sở đạt 93,42%; Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề): đạt 97,53%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 77,19% (trong đó nữ đạt 44,78%); Tỷ lệ phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi đạt 97,76%; Tỷ lệ xóa mù chữ đạt 99,79%.
Tiêu chí số 15 về Y tế
Huyện có 01 bệnh viện, 01 trung tâm y tế dự phòng, đã khởi công xây dựng Bệnh viện đa khoa khu vực quy mô 3,34 ha; có 14/16 Trạm Y tế đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất (trạm y tế 02 xã Vĩnh Lộc B, thị trấn Tân Túc đã xác định địa điểm và đang lập thủ tục xây dựng mới). Trạm y tế xã/thị trấn đều có bác sĩ (100%).
Tỷ lệ cán bộ, viên chức trạm y tế xã/thị trấn có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên 85,83%; Tỷ lệ giường bệnh: 9 giường/10.000 dân; Số bác sĩ: 5 bác sĩ/10.000 dân; có 401 cơ sở hành nghề y dược tư nhân; Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế: 76%; Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm: dưới 1,17%.
Tiêu chí số 16 về Văn hóa
Huyện đã phối hợp tổ chức 215 lượt đoàn biểu diễn nghệ thuật Thành phố đến phục vụ nhân dân; phong trào rèn luyện thân thể, thể dục thể thao, dưỡng sinh, các sân chơi được đầu tư xã hội hóa ngày càng nhiều đã thu hút đông đảo người dân tham gia luyện tập và thi đấu, đáp ứng cơ bản nhu cầu sinh hoạt, vui chơi, giải trí của nhân dân.
Công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực văn hóa được tăng cường và củng cố; việc thực hiện chính sách xã hội hóa về lĩnh vực văn hóa ngày càng được đẩy mạnh. Hiện nay có 60,37% ấp – khu phố đạt chuẩn ấp – khu phố văn hóa, 89% gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa.
Phối hợp Chi cục phát triển nông thôn tổ chức hội thi tìm hiểu về nông thôn mới với 02 xã tham gia dự thi cấp Thành phố (01 giải nhất và 01 giải ba).
Tiêu chí số 17 về Môi trường
Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia đạt 100% (nước sạch đạt 45,07%, nước hợp vệ sinh 54,93%), đối với việc người dân sử dụng nước giếng khoan đều thực hiện các biện pháp xử lý sơ bộ để đảm bảo nước sử dụng, thực hiện đun sôi nước trước khi sử dụng.
Các cơ sở sản xuất – kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường (tất cả 12 xã đều đạt, còn lại 02 xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B là chưa đạt). Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường của các cá nhân, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn; rà soát báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố danh sách các đơn vị gây ô nhiễm để có kế hoạch di dời vào khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung theo quy định; không cấp phép đầu tư các ngành nghề sản xuất gây ô nhiễm; tuyên truyền, vận động các hộ chăn nuôi thực hiện các biện pháp xử lý chất thải, bảo vệ về môi trường, kiên quyết di dời, không cho hoạt động đối với các trường hợp gây ô nhiễm và không phù hợp quy hoạch.
Thường xuyên tuyên truyền, vận động và tổ chức dọn dẹp vệ sinh các khu dân cư, các đường giao thông, vớt rác các kênh rạch bị ô nhiễm; trồng cây xanh dọc theo các đường giao thông nông thôn, các kênh rạch, trường học; phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp. Huyện phối hợp Chi cục Lâm nghiệp tổ chức trồng 11.860 cây xanh dọc các tuyến kênh, đường giao thông nông thôn, trường học, công viên.
Huyện có 07 nghĩa trang được quy hoạch tại các xã Đa Phước, Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân, Bình Lợi, Tân Quý Tây và một số nghĩa trang họ tộc tồn tại từ lâu. Trong chỉ đạo điều hành, Huyện đề nghị các ngành tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân không chôn cất tại đất nhà, đất họ tộc, khuôn viên chùa, thánh thất... thực hiện hỏa táng để góp phần bảo vệ môi trường.
        Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định, 100% số hộ dân trên các tuyến đường chính đăng ký thu gom rác, các hộ ở bên trong xe lấy rác không vào được thì hướng dẫn người dân phân loại, chôn lấp hợp vệ sinh. Trên địa bàn Huyện hiện có 87 đơn vị thực hiện thu gom rác thải sinh hoạt (gồm: 81 tổ thu gom rác dân lập và 06 doanh nghiệp có tư cách pháp nhân thực hiện thu gom rác, trong đó có 10 đơn vị thực hiện thu gom trên địa bàn nhiều xã, thị trấn) với khối lượng rác thải sinh hoạt được thu gom lên đến 231,6 tấn/ngày đêm. Các khu dân cư có hệ thống thoát nước và 100% hộ dân có nhà tiêu, nhà tắm hợp vệ sinh.
e) Công tác xây dựng hệ thống chính trị xã hội vững mạnh và giữ gìn an ninh trật tự: (từ tiêu chí 18 - 19)
- Công tác chỉ đạo điều hành:
Huyện ủy, Ủy ban nhân dân Huyện chỉ đạo lực lượng Công an Huyện, xã đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh, phòng chống tội phạm: thực hiện các đợt cao điểm đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm, thường xuyên tuần tra, khép kín địa bàn, rà soát chủ động quản lý các đối tượng có tiền án, tiền sự để có biện pháp răn đe, phòng ngừa hiệu quả; tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân tích cực tố giác, phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh ban hành Quyết định số 4034/QĐ-UBND ngày 08 tháng 8 năm 2012 về Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình hành động của Thành ủy về “Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IX về Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giai đoạn 2011 – 2015” trên địa bàn huyện Bình Chánh.
Kiện toàn bộ máy chính quyền từ huyện đến xã; thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị; góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ đức, đủ tài, phục vụ tận tâm tận tình cho nhân dân, hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ chính trị được giao.
- Kết quả thực hiện: các tiêu chí đều đạt
Tiêu chí số 18 về Hệ thống chính trị
Huyện và xã có đầy đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định. Năm 2014, có 06 xã được đánh giá ”Đảng bộ trong sạch, vững mạnh” và 08 xã được đánh giá “Đảng bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ”.
Chất lượng hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội thường xuyên được củng cố, nâng chất hoạt động có hiệu quả, nhiều năm liền được đánh giá đơn vị xuất sắc, tiên tiến, dẫn đầu cụm thi đua 4 của Thành phố.
Về cán bộ, công chức cấp xã là 710 người: trình độ chuyên môn: có 08 người trình độ thạc sĩ, 339 người trình độ đại học, 41 người trình độ cao đẳng, 230 người trình độ trung cấp, 19 người trình độ sơ cấp, 75 người bằng THPT; trình độ lý luận chính trị: có 23 người trình độ cử nhân, 38 người trình độ cao cấp, 232 người trình độ trung cấp, 417 người trình độ sơ cấp ; trình độ vi tính: 435 người trình độ A,B, 23 người trình độ trung cấp, 252 người trình độ tin học văn phòng;
Về cán bộ, công chức cấp Huyện là 244 người: trình độ chuyên môn: có 14 người trình độ thạc sĩ, 188 người trình độ đại học, 15 người trình độ cao đẳng, 27 người trình độ trung cấp; trình độ lý luận chính trị: có 14 người trình độ cử nhân, 35 người trình độ cao cấp, 68 người trình độ trung cấp, 127 người trình độ sơ cấp; trình độ vi tính: 210 người trình độ A, B, 13 người trình độ trung cấp, 21 người trình độ tin học văn phòng.
Tiêu chí số 19 về An ninh trật tự
Hằng năm Huyện ủy, Ủy ban nhân dân Huyện, xã đều xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, biện pháp đảm bảo an ninh trật tự; Lực lượng Công an Huyện, xã được xây dựng, củng cố ngày càng trong sạch vững mạnh theo qui định của Bộ Công an; Không có tổ chức, cá nhân hoạt động chống Đảng, chính quyền, phá hoại kinh tế; không truyền đạo trái pháp luật, khiếu kiện đông người kéo dài; không phát sinh các tụ điểm phức tạp về an ninh trật tự; không xảy ra tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
Tình hình phạm pháp hình sự luôn được tập trung kéo giảm về số lượng hàng năm; Tỷ lệ khám phá án hình sự đạt 67,1%.

Số lượt người xem: 2537Bản in Quay lại
Xem theo ngày:

Thông tin quy hoạch

LIÊN KẾT WEBSITE