Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Navigate Up
Sign In

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

 
Thông tin tổng hợpThứ 2, Ngày 11/03/2013, 17:10

Phòng Tư pháp huyện Bình Chánh góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992:

Chế định “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”
Tôn trọng phẩm giá con người, bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và ngày càng được phát huy, hoàn thiện trong Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” là thể hiện kết tinh ý chí phấn đấu và đưa quyền con người lên một nhận thức mới, tầm cao mới.
Lịch sử lập hiến Việt Nam đã khẳng định quyền con người ngày càng được ghi nhận nhiều hơn và quyền công dân ngày càng mở rộng hơn, phù hợp với sự phát triển của xã hội… Hiến pháp 1992, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất hiện nay đã bảo đảm mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền học tập, lao động, chăm sóc sức khỏe…. Cụ thể: Hiến pháp năm 1946 ghi nhận 18 Điều; Hiến pháp năm 1959 thể hiện 21 Điều; Hiến pháp 1980: 29 Điều; Hiến pháp năm 1992 có 34 Điều. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần này thể hiện trong 34 Điều.
Trên cơ sở Hiến pháp, để bảo đảm thực thi có hiệu quả các quyền con người, quyền công dân, trong những năm qua, Việt Nam đã ban hành một khối lượng đồ sộ các văn bản pháp luật khác nhau, trong đó có hơn 58 bộ luật và luật quan trọng như BLHS, BLTTHS, BLDS, BLTTDS, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Giáo dục… hơn 120 pháp lệnh, hơn 4.000 văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ… phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người.
Đến nay, Việt Nam đã gia nhập hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người chủ chốt, là quốc gia thứ hai trên thế giới và đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em, phê chuẩn 17 Công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO)…
Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng một nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và nhu cầu hội nhập quốc tế toàn diện của đất nước, Hiến pháp 1992 cần có những sửa đổi, bổ sung phù hợp.
Phòng Tư pháp huyện góp ý về Chế định “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” tại Chương II Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.
1. Lời nói đầu của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp khẳng định rằng Hiến pháp này do nhân dân làm ra và nhân dân thực hiện Hiến pháp. Vì vậy, trong nội dung cụ thể cần tăng thêm quyền dân chủ của nhân dân; nhân dân không chỉ có quyền bầu cử, ứng cử mà phải có quyền yêu cầu bãi miễn Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Vì Việt Nam cũng như phần lớn các quốc gia khác, thực hiện cơ chế dân chủ đại diện, gián tiếp: nhân dân bầu ra người đại diện cho ý chí, nguyện vọng (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân) của mình để sử dụng và thực hiện quyền lực Nhà nước. Tuy nhiên, Hiến pháp 1992 và Dự thảo sửa đổi mới chỉ quy định công dân có quyền bầu cử, quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, chưa có quy định về quyền giám sát của nhân dân hay quyền yêu cầu bãi miễn khi người đại diện của dân không còn xứng đáng.
Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của dân, do dân bầu ra để thay mặt dân sử dụng quyền lực Nhà nước. Vì vậy, để đảm bảo quyền làm chủ thực sự của dân, song song với việc quy định quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân trong Hiến pháp thì thiết nghĩ cũng cần phải ghi nhận cho dân có quyền “yêu cầu bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân” khi họ không còn đủ năng lực, phẩm chất để làm người đại diện sử dụng, thực hiện quyền lực Nhà nước của dân. Việc quy định về quyền yêu cầu bãi miễn người đại diện không chỉ giúp cho nhân dân thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của mình, thực hiện nghĩa vụ giám sát người đại diện mà còn cơ chế để các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải nỗ lực để thực hiện tốt vai trò người đại diện của mình.
2. Chương II của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định và làm rõ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp năm 1992. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã bổ sung một số quyền mới rất đáng chú ý như: Quyền sống (Điều 21); Quyền Hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác (Điều 22); Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 23); Quyền sở hữu tư nhân (Điều Điều 33); Quyền được đảm bảo an sinh xã hội (Điều 35); Quyền kết hôn và ly hôn (Điều 39); Quyền được hưởng thụ các giá trị văn hóa (Điều 44); Quyền xác định dân tộc (Điều 45); Quyền sống trong môi trường trong lành (Điều 46); … Ngôn ngữ sử dụng trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp khắc phục kiểu “ban ơn” ở Chương V Hiến pháp năm 1992: Ở đó một số quyền được bắt đầu bằng cụm từ “Nhà nước đảm bảo”, “Nhà nước bảo hộ”, “Nhà nước tạo điều kiện”, … Gây cảm giác nhà nước ban cho công dân chứ không phải công dân mặc nhiên được hưởng các quyền này (điều này cũng tiềm ẩn nguy cơ về sự tùy tiện của cơ quan nhà nước trong việc cắt xén, giảm bớt, cho hay không cho các quyền mà công dân được hưởng mặc định). Dự thảo lần này khắc phục bằng các cụm từ khẳng định sự mặc định đó: “Mọi người có quyền”, “Công dân có quyền”, … Đây là nét rất mới cho thấy sự tôn trọng, dân chủ đối với công dân và con người của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
3. Tại khoản 2 Điều 15 dự thảo: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng”. Quy định như vậy dễ dẫn đến hệ quả là các văn bản dưới luật có thể hạn chế quyền và tự do hiến định của công dân. Đề nghị sửa đổi, bổ sung: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn bằng luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng”.
4. Về quy định “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” tại các Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 26, Điều 31 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 chưa có cơ chế bảo đảm thực thi các quyền này một cách hiệu quả; nhiều quyền và tự do của công dân được thiết kế gắn với cụm từ “theo quy định pháp luật”, do pháp luật quy định” đã gây khó khăn trong giải thích, xây dựng và thực thi các biện pháp đảm bảo quyền con người, quyền công dân, dễ dẫn đến hệ quả là các văn bản dưới luật có thể hạn chế quyền và tự do hiến định của công dân,... Vì vậy, cần được xem xét, sửa đổi cho phù hợp, bảo đảm thực thi các quyền này một cách hiệu quả.Đề nghị sửa đổi, bổ sung cụm từ trên như sau: theo luật định”.  
5. Tại điều 35: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh”;Điều 36: “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp”; Điều 38: “Công dân có quyền làm việc”;Điều 40: “trẻ em có quyền… được chăm sóc giáo dục”; Điều 41: “có quyền được bảo vệ sức khỏe”; Điều 42: “công dân có quyền và nghĩa vụ học tập”; Điều 43: “quyền nghiên cứu khoa học”; Điều 44: “quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa; Điều 46: “quyền được sống trong môi trường trong lành”: Trong khi nước ta thu nhập Quốc dân còn thấp, đất nước còn nghèo, nếu Hiến pháp quy định công dân có những quyền như trên thì nhà nước ta làm sao có đủ điều kiện để đảm bảo cho tất cả mọi công dân. Vì vậy, cần được xem xét, sửa đổi cho phù hợp, bảo đảm thực thi các quyền công dân này một cách hiệu quả./.
 

Số lượt người xem: 201Bản in Quay lại
Xem theo ngày:

Thông tin quy hoạch

LIÊN KẾT WEBSITE